Dòng sông, nơi anh nằm lại...

Trong chiến tranh, bên dòng sông Thu Bồn trầm tích máu lửa có nhiều văn nghệ sĩ ngã xuống và trở thành một nốt trầm thiêng liêng trong bản hợp xướng đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Bên bờ sông Thu, đoạn qua Điện Hồng quê tôi, nhà văn Nguyễn Hồng anh dũng hy sinh như một chiến sĩ quân giải phóng.

alt
Thu Bồn.  Ảnh: Hà Cát

Sinh năm 1948 tại thôn Vĩnh Long, xã Đức Long, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), năm 1967-1970, Nguyễn Hồng là sinh viên khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội cùng với các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Bảo, Nguyễn Bá Thâm, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Thị Ngọc Hải, Dương Trọng Dật, Hà Phương, Trần Thị Thắng, Trường Phước, Trần Nhung… Đáp lời kêu gọi “Vì miền Nam ruột thịt”, Ban Tổ chức Trung ương tuyển chọn mở khóa đào tạo lớp viết văn đặc biệt phục vụ chiến trường ở Quảng Bá. Trong đó có một số sinh viên năm thứ 3 và thứ 4 khoa Văn, Sử như Nguyễn Hồng cùng số anh em viết văn là cán bộ công chức của các cơ quan ban ngành (Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh, Trần Vũ Mai, Nguyễn Văn Giai), bộ đội (Nguyễn Trí Huân, Triệu Bôn), một số cán bộ miền Nam làm công tác báo chí và 3 học sinh Lào (trong đó có nhà văn Chăn Thi Đuôn Xa Vanh - Chủ tịch Hội Nhà văn Lào hiện nay). 

Học xong, Nguyễn Hồng cùng Nguyễn Bảo, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Trí Huân về Ban Văn học Quân khu 5; Trần Vũ Mai, Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh, Hoàng Minh Nhân, Đỗ Văn Đông, Bùi Thị Chiến, Nguyễn Văn Giáo, Nguyễn Bá Thâm, Trần Văn Thành, Hoàng Hởi, Nay Nô, Nguyễn Thế Khoa về Hội Văn nghệ Trung Trung Bộ; Trần Trung Kiên, Phan Song về báo Cờ Giải Phóng Khu 5; Ngô Quy Nhơn về báo Cờ Giải Phóng Quảng Nam; Lê Đình Nghi về báo Cờ Giải Phóng Quảng Đà. Trong chiến dịch Xuân 1972, Nguyễn Hồng về Sư đoàn 3 Sao Vàng cùng bộ đội đặc công đánh Gò Lôi - Bình Định. Viết bút ký Đêm cao điểm xong, Nguyễn Hồng cùng với Nguyễn Bảo xin đi chiến trường Quảng Đà. Nguyễn Bảo theo Đại đội 2 Công binh Hải Vân viết ký Biển đêm, còn Nguyễn Hồng đi vùng B Đại Lộc để phản ánh về tinh thần chiến đấu quyết liệt của cán bộ nhân dân 6 xã vùng B với bọn địch lấn chiếm tháng 8-1973. 

Tháng 10-1973, quân khu triệu tập về căn cứ, Nguyễn Hồng viết thư xin ở lại để đi cánh bắc Điện Bàn. Ngày ấy, Điện Bàn rất ác liệt, địch điên cuồng lấn chiếm, bộ đội về trụ được ở vùng Gò Nổi và vùng ven bắc sông Thu Bồn ở Điện Xuân. Anh chọn Đại đội 3 Điện Bàn để chốt lại cùng bộ đội. Anh đổi súng ngắn K54 để lấy khẩu CKC cải tiến. Địch lúc ấy rất mạnh. Tiểu đoàn bảo an 145B đóng ở ngã ba Trùm Giao (Cẩm Lý) án ngữ không cho bộ đội ta ở Gò Nổi sang cánh bắc. Đại đội 3 chốt ở nổng Ông Tình cạnh bàu Bà Mai. Keo, bói, cỏ lùng, sặt mọc kín dày. Địch bắt dân Điện Văn, khu dồn Gò Muồng đi phát quang vùng dọc sông Thu Bồn từ Điện Thái lên Lộc Phong, Lộc Hưng. 

Với sự hy sinh quả cảm của nhà văn liệt sĩ Nguyễn Hồng cùng thành tích trụ bám, chiến công của cán bộ và nhân dân xóm Nổ, người viết bài này đề nghị lãnh đạo chính quyền các cấp, Hội VH-NT Quảng Nam và đồng đội quan tâm ủng hộ xây dựng tại nơi Nguyễn Hồng hy sinh một tấm bia tưởng niệm để tri ân.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 2-12-1973, địch mò lên nổng Ông Tình giẫm phải mìn của ta, một số tên thương vong. Khoảng 10 giờ, Tiểu đoàn 145B rút sang bên kia bàu Bà Mai. Chúng chặt tre và cố thủ ở lại. Thư gửi cho đồng chí Võ Hợi, Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Chính trị viên Huyện đội Điện Bàn chiều 2-12-1973, Nguyễn Hồng viết: “Nếu chúng muốn mò được đến đây thì trước hết phải bước qua xác chúng tôi”. Nhưng tối 2-12, bọn địch đã luồn qua Lộc Hưng men theo bờ Thu Bồn và sáng hôm sau đánh thọc sau lưng Đại đội 3. Đại đội 3 có 3 chốt, một chốt ở mé bờ sông (phía nam), một chốt trên nổng Ông Tình và một chốt phía bàu Bà Mai (phía bắc). Địch  tấn công mạnh, số anh em ta chốt phía sau bị tập kích bất ngờ. Không cự nổi, đành rút. Anh Tường, Đại đội phó Đại đội 3 ở chốt trên cũng bảo rút. Nguyễn Hồng bảo: “Vì sao rút?”. Tường giải thích: “Ta ít, địch đông, hỏa lực mạnh”. Hồng chạy theo Tường khoảng 5m thì ở lại quyết chiến với địch. Chạy khoảng 20m, Tường quay lại không thấy Hồng. 5 phút sau từ vườn chuối hoang nghe có tiếng CKC của Hồng nổ đanh; địch vãi đạn AR15, đại liên M60, M79 tấp vô vườn chuối. Khoảng 15 phút sau, tiếng súng tắt.  Đồng chí Hợi đang đứng chân ở thôn 5 Điện Thái nghe Tường chạy xuống báo cáo thì ba lần cắt một tiểu đội thuộc Đại đội 3 Điện Bàn tiếp cận khu vực vườn chuối để nắm tình hình, nhưng địch đông quá. Chiều hôm đó, địch bắt dân đi phát quang khiêng xác Nguyễn Hồng về ngã ba Trùm Giao…

Tháng 10-1975, hai nhà văn Nguyễn Bảo và Nguyễn Bá Thâm về đây tìm. Dân ở dọc đường 100 bảo có cái mả đơn độc, nghi đó là mả của anh nhà văn giải phóng Nguyễn Hồng. Hai nhà văn thắp hương lên ở cái mả phía tây đồn Trùm Giao.

Đúng ra Nguyễn Hồng không chết, nếu anh chịu rút đi trước quân số đông và hỏa lực quá mạnh của địch. Nhưng tính anh xông xáo, nhiệt tình và liều lĩnh. Khi quân địch mạnh, cấp ủy, chính quyền và xã đội Điện Văn xác định rút để bảo toàn lực lượng thì Nguyễn Hồng bảo: “Đất Điện Văn, Điện Xuân là bàn đạp để tiến công về Đà Nẵng, nên bất cứ giá nào ta cũng phải giữ cho bằng được như khẩu hiệu của quân và dân Quảng Đà nêu ra: Một tấc giang sơn-một dòng máu đỏ”.

Theo nhà văn Nguyễn Bá Thâm, bạn học Nguyễn Hồng và là người trực tiếp tham gia đánh cứ điểm Trùm Giao ngày 24-7-1974: Hồng rất thẳng tính, xông xáo, nhiệt tình, sống có nghĩa có tình với anh em, bạn bè, là học sinh khá môn Trung văn. Hồi học ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh từng là ủy viên Ban Chấp hành Đoàn nhiều khóa, từng nổi tiếng với biệt hiệu “Hồng vệ binh”. Trong thời gian học đại học, một lần đi thực tế sưu tầm văn học dân gian ở Quế Võ, Hà Bắc, khi xích mích tranh cãi, Nguyễn Hồng đã đụng độ với mấy lính công binh Trung Quốc giúp Việt Nam sửa đường xe lửa, vì sự ngang ngược của họ. Tính cách ấy, lối sống nhiệt huyết ấy và đức tính can trường ấy khiến anh một mình ngoan cường chống trả lại bọn địch đông gấp nhiều lần và hy sinh anh dũng ở Điện Hồng - mảnh đất từng được cán bộ và nhân dân địa phương gọi là “đất ăn thịt người”, vì tính khốc liệt của nó ở một thời kỳ trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Còn khi ở Bình Định, Nguyễn Hồng đã cải trang theo bộ đội đặc công đánh vào cứ điểm Gò Lôi và sau đó, anh có tác phẩm Đêm cao điểm (tặng thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1974).

LÊ ANH DŨNG

Lượt xem: 308

Ý kiến của bạn (0)

Gởi ý kiến

hẹp hơn | rộng hơn

busy
 

Mới cập nhật